Những vụ thảm sát ở Việt Nam (bài 5)

Bài 5:

Gặp nạn nhân trong vụ bắn giết 93 người rồi quẳng xác xuống sông ở Phù Ninh tỉnh Phú Thọ:

Hai gã lực điền cướp súng, dìm chết giặc Tây rồi đào thoát dưới đáy sông Lô

Ở tuổi 87, cụ Nguyễn Văn Hòa da vẫn đỏ au, râu dài trắng như cước, răng đều tắp và đen nhưng nhức. Xã An Đạo, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ một ngày nắng nỏ. Bia Căm Thù như còn rực lửa đau thương dựng ở rệ sông Lô. Nơi đây, năm 1947, giặc Pháp đã tàn nhẫn dẫn 95 người xã An Đạo ra bờ sông thực hiện những hành động dã thú với phụ nữ, kể cả người đang mang bầu, với người già và trẻ em đang níu vú mẹ. Từng người bị bắn thẳng và trán, ẩy xác xuống sông. Có người sợ hãi chắp tay, quỳ gối van lạy, chúng cũng không thôi xiết cò. Đến lượt mình, hai anh em Nguyễn Văn Nhù và Nguyễn Văn Hòa bèn nháy nhau cướp súng dài, bẻ quặt tay thằng Tây, vật cổ nó xuống sông Lô rồi dìm chết dưới vực nước An Đạo. Hai anh em rồi mất hút dưới làn nước đục ngầu, dần ngoi lên các cánh rừng già bờ sông bên kia, nay thuộc địa giới huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc…

Nỗi ân hận của người hạ sát Thực dân rồi đào thoát khỏi quỷ sứ

Trong hành trình bi thảm đi ghi lại lịch sử những cuộc thảm sát và các nấm mồ tập thể bi thương ở Việt Nam, đây là lần hiếm hoi chúng tôi thấy lòng mình vui nhẹ nhẹ trước chiến thắng bất ngờ và khoan khoái của những lương dân vô tội tay không tấc sắt trước sức mạnh phi nghĩa của bè lũ xâm lăng.

Tuy nhiên, vặt cả một bàn gỗ đầy những nhãn lồng vàng nâu mời khách, ấm chè tươi đặc cắm tăm được giót ra, giọng cụ Nguyễn Văn Hòa lại nghèn nghẹt buồn rầu. “Tôi và anh trai tôi sống sót, nhưng cả mẹ tôi đang mang thai đứa em ruột của tôi đã bị giết ngay sau đó vài phút, rồi cả anh em họ hàng nhà tôi gồm 8 người, cả xóm mạc của tôi nữa – tất thảy 93 người – cùng bị tàn sát. Thoát chết mà lòng buồn vô hạn độ. Là bởi vì cái lẽ này nữa. Lúc nó giết nhiều người quá, tôi nghĩ đằng nào thì tôi cũng chết chắc. Đứng im nó bắn, nó ẩy mình xuống sông thì thảm quá, chẳng thà chiến đấu “được ăn cả ngã về không”. Tôi thấy nó chả trói tay trói chân gì, nước sông Lô thì hung dữ, anh em tôi toàn những loại rái cá “nếu ném ra đại dương thì cũng chỉ có thể chết đói trên mặt sóng biển, chứ chả bao giờ chìm được”. Vậy nên tôi nháy mắt hướng ra vực, bảo anh Nhù, anh trai tôi, ỳ rằng “vù nhé”. Lựa lúc nó giơ súng ngắm bắn người khác, tôi xông ra, quặt tay cướp súng của nó. Quặc nó xuống sông. Tôi xé hết quần áo mình cho dễ bề bơi lượn. Trên bờ đạn bắn rách da cổ tôi, cơ thể bỏng rát, máu loang mặt sóng. Tôi bấy giờ ở độ tuổi mười tám đôi mươi nên khỏe nổi tiếng trong vùng. Tôi chèo đò tay dọc sông về tận Hà Nội, hai tay tôi có thể banh hai con trâu đang húc nhau ra. Tôi dìm thằng Tây to béo đó độ 10 phút thì nó chết. Đạn trên bờ vẫn bắn xuống ào ào, nhưng chúng tôi ở dưới nước nó không trông tỏ, hai nữa là đạn xuống nước vô tác dụng cả”.

“Hai chúng tôi bơi sang bờ bên kia, vào địa bàn huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc bây giờ. Độ nọ, tre pheo, rừng rú khu vực thượng nguồn sông Lô này còn rậm rạp lắm. Thoát, nhưng cháu biết thế nào không. Sau khi cay cú vì anh em tôi không chỉ tẩu mất mà lại còn rong theo một mạng thằng mắt xanh mũi lõ, bọn Pháp và tay sai mới cẩn trọng hơn. Chúng nó trói chân trói tay tất cả những người còn lại, sau mới tra khảo, hành hạ dã man đủ kiểu, mới bắn chết và quẳng xác xuống sông. Tôi ân hận một phần là vì thế. Biết đâu, nếu chúng tôi không bỏ trốn kiểu ấy, thì hơn chín mươi người còn lại sẽ không bị xích trói chân tay. Và sẽ lại sẽ có ai đó tiếp tục thoát thân nhờ phương cách của chúng tôi. Mà ngẫm vậy thôi, chứ toàn phụ nữ, trẻ em, người già, cả người bụng mang dạ chửa, sức mấy mà thoát được” – Giọng cụ Hòa ngậm ngùi, bà vợ răng đen vấn khăn mỏ quạ của cụ ngồi cạnh cũng khóc tấm tức. Cụ Hòa quay ra thắp nhưng cho cụ Nguyễn Văn Nhù, người anh trai cùng lập kỳ tích giống mình vừa mới về trời ở tuổi thượng thọ 93.

Thây người nổi trên sông Lô bập bềnh như cả tram thân cây chuối hột

Bên sông Lô mướt xanh, các vở nước hồng hào cuộn lên màu mỡ, bà con xã An Đạo đã dựng một nhà bia căm thù rất quy mô. Chưa bao giờ nỗi đau của vụ thảm sát vơi đi trong lòng mỗi con dân đất Tổ này, cứ ngày mùng 10/9 hàng năm, làng có ít nhất 93 cái đám giỗ. Họ gọi là “giỗ trận”, tưởng nhớ một trận càn của bè lũ Thực dân khiến 93 người của quê hương Phú Thọ bị thảm sát cùng lúc. 93 người với mấy chục gia đình, mấy mươi dòng họ và lớp lớp thế hệ con cháu cùng rùng mình đau thương và ám ảnh. Nhiều người bảo, các vực nước sông Lô qua khu vực An Đạo rất nhiều chuyện ly kỳ, huyền hoặc. Thuyền bè qua, có khi nghe tiếng khóc của phụ nữ và trẻ em, có khi thấy những hình nhân thất thểu bay lượn não nề. Riêng với bà con, vở sông có vụ thảm sát ấy lại là chốn tưởng nhớ rất thân thương. Họ, bằng cách này hay cách khác, khi là nén nhang, khi là chút gạo muối hoặc vài bông hoa vườn nhà đem rắc xuống rệ nước để vỗ về linh hồn những người đã bị giết một cách bạo tàn và oan uổng nhất.

Tháng 9 năm 1947. Hai năm sau cách mạng tháng Tám, giặc Pháp đã bội ước đem quân tái chiếm Việt Nam. Chúng đánh ngược mãi ra Hà Nội, lên Sơn Tây, qua Hưng Hóa Đồn Vàng ngược Tuyên Quang. Các thành lũy lần lượt thất thủ. Giặc Pháp và tay sai điên cuồng trước sự thoắt ẩn thoắt hiện của du kích quân và bộ đội cụ Hồ. Bà con An Đạo đào hầm trú ẩn trong nhà và ngoài vườn đề phòng giặc giã. Ví như anh em ông Nhù, ông Hòa cũng áo vải nâu, túi rết, chân trần, theo Việt Minh hoạt động cách mạng ở cả một vùng rộng lớn hai bên lưu vực sông Lô đầy rừng rú. Quá sợ chiến tranh, quá hiểu sự đáng sợ của lũ giặc cuồng, bà con An Đạo một lòng theo cách mạng. Liên tiếp tàu chiến của giặc bị bắn chìm trên sông Lô. Giặc Pháp thua trên nhiều chiến dịch. Điên loạn tức tối, bọn chúng đã tổ chức một trận càn quy mô, tàu chiến ca nô rẽ sóng ào ào, ù ập xông vào miền quê thanh bình có cái tên chả trêu ghẹo ai bao giờ: An Đạo. Sục sạo vào từng nhà dân để “tát nước bắt cá”, giết nhầm hơn bỏ sót. Ông Nhù, ông Hòa và 93 người bà con khác bị giặc lôi từ trong hầm trú ẩn ra. Thấy ông Hòa, ông Nhù to khỏe lực lưỡng, chúng tiện thể dí hai cái bộ điện đài to đùng lên vai, bắt hai gã lực điền cõng cho chúng. Tiếng ụ xọe, lịt xịt của máy móc hiện đại làm hai gã trai sông nước chả hiểu gì. Hễ cứ lơ ngơ, hay đi chậm chạp là nó dùng báng súng dài nện vào đầu, thúc vào đít. Cáu lắm, nhưng hai gã to khỏe nổi tiếng của An Đạo cũng đành lũn cũn cõng dụng cụ chiến tranh cho giặc, bởi nhìn lên, thì gã Tây còn to cao hơn mình. Chúng nó rất đông, xách toàn súng lớn. “Giá mà có cái mái chèo gỗ ở đây, thì tao cũng sống chết với mày cho bớt nhục”, gã trai thuyền chài nghĩ bụng.

Ra đến bến sông Lô, giặc bắt mọi người xếp hàng tra khảo. Để đề phòng bị tấn công trả thù, cứ thanh niên trai tráng khỏe mạnh chúng bắn trước cho nó… lành.

Anh Nguyễn Văn Hùng, con trai cụ Nguyễn Văn Nhù kể: “Bao năm qua, bố tôi luôn bị ám ảnh bởi vụ thảm sát ấy. Ông bảo, bà nội tôi và em út của bố tôi bị giết trước mặt ông. Rồi 8 người trong gia tộc cùng chết, 93 người thiệt mạng một lúc, thử hỏi ai mà chịu được? Bố tôi kể, lúc nó giết 93 người là buổi chiều. Chỉ đến sáng hôm sau, bà con ra bến sông khóc lóc rầm trời, đã thấy thây người nổi lên cả loạt, nhiều như những thân chuối. Vì nỗi căm phẫn ấy, các cụ sau này đều trở thành những chiến binh quả cảm trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Chú Hòa tôi đi chiến trường, vinh được gặp và hành quân cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khiến cả họ lấy làm vinh dự lắm. Đúng đến khi tan bóng giặc ở lòng chảo Điện Biên, ông mới trở về”.

Nếu quá mải than khóc mặt trời, anh sẽ mất nốt các vì sao!

Quá nhiều người chết ở một ngôi làng. Mà hồi năm 1947 thì bốn bề rừng rú và sông sâu vực lớn, dân cư cực kỳ thưa thớt. Vì thế, loanh quanh, nhiều người chết vẫn trong một nhà, một họ tộc mà ra. Những người sống sót đau đớn đến ngẩn ngơ, có người phát điên lên vì mất mát. Lúc ấy, họ cưu mang nhau, bù đắp cho nhau để cùng tìm cách chăm sóc phần hồn cho những người chết oan. Ông Hòa và anh Hùng đều kể: Người bị bắn thẳng vào trán và ẩy xác xuống sông đầu tiên là ông Độ. Ông Nhù trốn thoát, rồi giặc cũng giết bà Ủn, vợ ông Nhù nốt. Vợ ông Độ là bà Lựu may mắn sống sót, trở về trong làng trong bơ vơ, hoảng loạn. Ông Độ bị giặt bắn vào cổ, lặn dưới đáy sông tẩu thoát, cũng tìm lối về làng trong hoang mang tột độ. Đoạn tang vợ, đoạn tang chồng, ông Nhù và bà Lựu, hai người vì vụ thảm sát vừa giữa đường đứt gánh hôn nhân ấy về gá nghĩa với nhau. Và những đứa trẻ tiếp tục ra đời, cuộc sống hồi sinh từ đau thương ngày cũ. “Tóm lại, ông Độ bị bắt đầu tiên, rồi đến lượt cụ Hoàng Văn Khuông. Bà vợ ông Độ sau đó đã trở thành mẹ của tôi. Bố tôi được 5 người con, tôi là trai cả. Cụ có sức khỏe hơn người, hưởng thọ những 93 tuổi…”, anh Hùng khóc, kết lại câu chuyện.Anh lại gạt nước mắt, thêm một nén nhang lên bàn thờ bố.

Ông Hòa có lúc khóc, có lúc cười, hàm răng đen nhánh, tóc bạc trắng, da đỏ au. Ông bảo, “tôi đọc sách, rất thấm câu này: nếu anh cứ knải khóc tiếc mặt trời mãi, anh sẽ mất nốt cả các vì sao đang lên. Đau xót của cuộc thảm sát, tôi không thể nào quên, nhất là đám trẻ con bà Huyền, bà Khiêm, đang bú mẹ thì bị giết, khi miệng còn trắng vệt sữa sơ sinh… Nhưng, phải gác nó lại để mà sống tiếp chứ”. Mấy đứa cháu cười tếu, bà Thy (vợ của ông Hòa) cũng cười đen nhánh sau vạt áo cánh nâu: vì lạc quan, vì vạm vỡ, nên cụ Hòa sống sót trở về, đã lấy hai bà vợ. Mỗi bà sinh được 5 người con, bà Thy rồi lại bà Cơ.

Cũng thấy nhẹ lòng hơn, khi đi theo vệt máu của cuộc thảm sát 93 người kinh hoàng này, chúng tôi đã gặp được nụ cười lạc quan với triết lý sống thật thấm thía của nhân chứng sống bi thương, cụ Nguyễn Văn Hòa.

Advertisements

About doanhoang75

Journalist at Lao Dong newspaper
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s