Các vụ thảm sát ở Việt Nam (bài 3)

Bài 3:

444 thi thể và một niệm khúc cho cuối trời Tây Bắc

Cụ ông, nguyên là Bí thư Đảng ủy, cũng là nguyên Chủ tịch UBND xã Thanh Xương (huyện Điện Biên, thuộc tỉnh Điện Biên) ngồi trong nhà sàn ở bản Noong Nhai, phóng tầm mắt ra bát ngát cánh đồng Mường Thanh rộng lớn nhất miền Tây Bắc, mà rằng: 444 lương dân vô tội, hầu hết là phụ nữ và trẻ em chết cùng lúc. Đạn, pháo, máy bay, bom na pan, chúng nó bắn giết rồi đốt cháy người ta. Dân chạy loạn biệt tăm tích, con chó con cầy ra cắp thi thể người đang phân hủy đi. Người Thái chon rấp từng đống xương thịt người chết mà không bao giờ “cải cát”, không biết xương ai lẫn với xương ai. Suốt 62 năm qua, hầu như không một thước phim, không một tấm ảnh, sách báo chỉ chép vài dòng tóm tắt lạnh lùng. Thật kỳ lạ, 444 con người biến mất cùng lúc thật thê thảm, trong lúc biết bao nhân chứng còn đây, ơ, sao mà họ biến mất vĩnh viễn một cách vô lý nhường ấy nhỉ? Ông lão tuổi bát tuần đưa ra câu hỏi thật nhức nhối, bất giác, người đối diện cảm thấy xấu hổ.

Cựu Bí thư Tỉnh ủy và câu chuyện về “địa ngục” của hơn 3.000 thường dân vô tội

Cách TP tỉnh lỵ Điện Biên Phủ chưa đầy mười cây số, chúng ta đã dựng cả một tấm phù điêu, cả tượng đài lớn ở giữa bản Noong Nhai để tưởng tưởng nhớ hơn bốn trăm nạn nhân xấu số này. Trước những nén tâm nhang, dòng chữ khắc đậm, lời lẽ rất rõ ràng: “Nơi đây, lúc 14giờ ngày 25/4/1954, máy bay của quân đội Pháp ném bom làm chết 444 đồng bào các dân tộc hầu hết là đàn bà và trẻ em”. Bóng ma thảm khốc của vụ tàn sát này vẫn kinh hoàng trong ký ức của những nạn nhân, những nhân chứng sống… Thế nhưng, ngoài một cái cối gỗ cháy nham nhở với một bức ảnh cũ trưng bày trong bảo tàng, thì hầu như thông tin về sự kiện này, suốt nửa thế kỷ nay vẫn cứ mù mờ, mỗi người kể theo một cách. Trong khi, trí nhớ của các nhân chứng cứ từng ngày từng giờ bị rơi rụng dần theo tuổi tác. Mỗi một ngày trôi qua, dường như câu chuyện lại thêm một lần bị vùi sâu hơn dưới chính những lớp đất nâu đã vùi thây 444 đồng bào xấu số của chúng ta…

Đứng trước bức tượng và những bức phù điêu tưởng nhớ các nạn nhân của vụ thảm sát ấy, tôi đã rùng mình. Bức tượng người đàn bà Thái nâu lành màu đất nung đứng cao vổng lên trền nền trời, tay “chị” bế một đứa trẻ nhẽo nhèo đã chết, trông thật thảm thương. Người đàn bà rất đẹp đứng trên một đám cuồn cuộn như Bồ Tát vân du. Có thể “chị” đã biến thành một linh hồn “bách tuế vân du”, chị đã chết và chị bế một đứa con đã chết đi hỏi thiên thần, hỏi cả quỷ sứ nữa, rằng “tại sao lại giết con tôi, tại sao lại giết tôi”! Cái đám cuồn cuộn dưới chân chị là gì? Là đám mây u ám hay là ngùn ngụt ngọn lửa căm hờn, hay ngọn lửa “hoá học” của bom napan vừa thả xuống từ những cỗ máy bay độc địa đang thiêu đốt thịt da người dân vô tội… Đứng trên lửa, đứng trên mây, người đàn bà mắt nhìn vời vợi thất thần, trên tay “chị” là một đứa con nằm xoã xượi, mềm oặt như một dải khoai héo. Nỗi đau khiến chẳng ai còn đầu óc nào để nghĩ rằng người đàn bà rất đẹp, hàng cúc bướm chít lấy hai bầu ngực đầy, đầu “chị” đội khăn piêu chênh vênh.

Hơn 60 năm, đối với lịch sử là quá ngắn, nhưng đối với một đời người thì lại có vẻ như quá dài. Những người tận mắt chứng kiến cảnh khốc hại với lầy nhầy máu thịt của trại tập trung Noong Nhai thuở ấy thì cơ bản là đã chết, đã quá già, hoặc ít ra là lẫn cẫn. Giới chữ nghĩa ở Điện Biên quan sát trong cả một thời gian dài, chỉ có bài báo “Cậu bé sống sót trong hận thù Noong Nhai” viết về cậu bé Lò Văn Puốn hơn 10 tuổi đầu đã không chết trong cái ngày 25/4 định mệnh. Khi bài báo đó ra đời, “cậu bé Puốn” đang làm Bí thư tỉnh uỷ tỉnh Lai Châu. Về già, hình như ông Puốn muốn làm một cái gì đó cho những người đã nằm vĩnh viễn dưới lòng đất bản Noong Nhai thông qua việc sưu tầm tư liệu về vụ thảm sát này. Có lẽ cũng là bởi, chính chị gái ông Puốn, dù sống sót nhưng đã bỏ lại nhiều máu và các phần thân thể (bị cụt cả hai chân) từ vụ thảm sát ấy.

Cụ Quàng Văn Pánh, hơn 90 tuổi, nhân chứng sống trong vụ việc tàn độc này, là người gần trọn một thế kỷ qua sống và làm cách mạng trong lòng chảo Mường Thanh, giải thích: chiết tự tiếng Thái, Noong Nhai tức là cái ao vỡ! Theo các cụ kể lại, cách đây hai trăm năm, trong một mùa lũ, dòng Nậm Rốm đột ngột bỏ bản Noong Nhai kéo dòng chảy đi, bỏ lại cho bản người Thái xứ Mường Then một cái hồ (ao) tròn vạnh rộng mấy chục tầm chài quăng. Người dân trong vùng mừng lắm. Đúng một trăm năm trôi qua, đến một ngày, dòng sông lại đỏng đảnh quành trở lại ngoạm dần ngoạm dần đất đai, ngoạm đến cái ngày cả bản nghe đánh “bục!”, một tiếng nổ khan trong đêm vắng, sáng dậy hoá ra mặt hồ dậy sóng, hồ và sông thông với nhau làm một! Để kỷ niệm sự kiện này, người Thái Điện Biên đặt tên bản Thái ở chỗ dòng sông hoắm vào ấy là Noong Nhai. Hình như tiếng nổ kỷ niệm sự trở về sông Mẹ của con hồ ấy nó cũng là điềm báo cho một loạt tiếng nổ chết chóc, tiếng nổ của súng ống, bom đạn Thực dân trong cơn giãy chết, chúng đã giết chết 444 thường dân trong cuộc thảm sát ngày 25/4/1954.

Thời kỳ 1948-1952, nghe tin bộ đội cụ Hồ đang chuẩn bị tiến lên giải phóng Tây Bắc, thực dân Pháp càng hoang mang. Chúng bèn củng cố lực lượng, đồng thời mở các cuộc càn quét lớn, thực hiện chiến lược lùa dân vào các trại tập trung quản lý nghiêm ngặt đề phòng sự xâm nhập của Việt Minh. Nhân dân các xã Chiềng Sơ, Núa Ngam, Pú Nhi (trong đó có gia đình ông Puốn) bị giặc kéo đổ nhà cửa, đốt vườn tược bắt buộc phải về các trại tập trung sống tạm bợ khổ sở trong các căn lều mới làm. Hàng trăm người bị chết vì đói, vì đòn tra tấn và bệnh tật, sốt rét. Chính sách của quân xâm lược đối với đồng bào người thiểu số ở Điện Biên bấy giờ rất thâm hiểm và dã man: chúng dồn dân vào trại tập trung, cạnh các đồn bốt cứ điểm của chúng để phòng khi Việt Minh đánh tới thì chúng sẽ đem thường dân vô tội ra làm bia đỡ đạn. Lúc Việt Minh không đánh thì chúng bắt nhân dân phá dỡ nhà cửa, chặt cây cối đào hầm đào hào xây đồn xây bốt. Suốt một dải các cứ điểm từ khu vực Hồng Cúm đến Ta Pô, lính Pháp dồn ép dân phải đến “hầu hạ” mình. Cuộc sống trong 4 khu trại tập trung thật không khác gì địa ngục trần gian. Khu tập trung Noong Nhai trước ngày bị bom tấn dội xuống, thực chất là một khu lều ổ chuột, bẩn thỉu. Trên diện tích gần 10ha, thực dân Pháp đã dồn gần 3.000 người “nhồi nhét” vào những căn lều tạm bợ đó, sự bẩn thỉu nhếch nhác theo như ông Puốn là “không tài nào tả xiết”. Ông Puốn đã viết kiểu “hồi ký” thế này: “Suốt gần 4 tháng chúng tôi sống không khác gì địa ngục. Không có việc gì để làm, nên các “tệ nạn” trong trại phát triển, nam giới thì tổ chức cờ bạc sát phạt nhau, rượu chè bê tha; nữ giới thì bị lính Tây hãm hiếp. Tình trạng mất vệ sinh tồi tệ, bò lợn chết do bom rơi thối um mà nhiều người đói vẫn phải nhặt về đem… nấu ăn. Không có củi để đun, bà con phải lấy nước lã dưới suối về uống. Chật chội, nước thải không có chỗ thoát, phóng uế bừa bãi không ai làm vệ sinh. Hầu như ngày nào cũng có một hai người chết do bệnh tật, do tên rơi đạn lạc”. Trong bối cảnh ấy, không ít đứa hèn hạ đã bỏ đi theo giặc. Bấy giờ kẻ xấu “nhồi sọ” những kẻ phản bội đồng bào mình bằng một quan niệm sống thất nhân tâm như sau: “chúng ta là người dân, thì cứ là: “mỏ đăư tẳng là xú, pú đăư má là lạy” (theo tiếng Thái, nghĩa là chỗ nào mạnh hơn, ai mạnh hơn thì ta theo). Tên Piềng (có nhân chứng kể là tên Iệng), là người Thái đi làm “nguỵ” có con vợ thất đức cũng sống trong trại tập trung với bà con mình. Con vợ nghe thấy người ta rỉ tai nhau “có con trâu con bò đừng mổ tống mổ tháo ăn hết thế, cán bộ sắp vào giải phóng Điện Biên rồi”. Con giặc cái ấy nó mới bắn tin cho thằng chồng phản bội. Thằng chồng bèn “Ưng Khuyển lập công” chạy lên báo tin cho tên quan ba của “nước Mẹ” Pháp; thế là bom đạn mới đổ xuống đầu người vô tội ở Noong Nhai.

“Trong 444 thi thể đó – gia đình ông Lường Văn Pốn có 22 thành viên thì tan thây… 21 người”

Thế là, vào ngày 25.4.1954, trời quá trưa, đông đảo bà con trong khu lán trại dơ dáy này đang tụ tập để đưa tang thêm một người xấu số nữa. Quá trưa, đoàn người bắt đầu lặng lẽ vừa đi vừa thương xót cho một người bà con mới tắt thở lúc sáng sớm do không chịu được sự khắc nghịêt của “chuồng trại”. Bỗng dưng có tiếng âm âm như là thổ thần nổi giận. Tàu bay! Mọi người chưa kịp trấn tĩnh thì tất cả chìm trong khói và lửa của hàng trăm quả bom sát thương và bom napan. Bom đào khoét ở trong vùng đất Ao Vỡ đến mức những người đang tắm ngoài sông Nậm Rốm cũng bị sóng sông dậy lên đánh ngã. Còn khu tập trung Noong Nhai thì bị huỷ diệt hoàn toàn. Hầm bị lấp, rất nhiều người bị chôn sống. Nhà cửa bị xới tung. Bom napan mang cả lửa tới đốt hết, đốt cả người, cả súc vật, cả nhà cửa. Tiếng kêu khóc rầm trời. Ông Puốn kể tiếp: “(khi xảy ra thảm hoạ) tôi và mấy người bạn đang tắm ở sông Nậm Rốm, chạy lên thì thấy chị Lò Thị Phanh (chị gái ông Puốn) người đầy vết thương đang nằm giữa hố bom, tưởng chị đã chết, chúng tôi chạy tiếp lên trại thì gặp cán bộ Khảo và cán bộ Thiêm đi kiểm tra. Nhiều người bị đứt đôi, người mất đầu, cụt chân, cụt tay, người thì bị cháy đen thui; nhiều người bị chết cả nhà. Điển hình như gia đình ông Lường Văn Puốn, ở bản Huổi Cánh, xã Thanh An có 22 người thì tan thây một lúc 21 người, một mình ông Puốn sống; gia đình ông Lù Văn Yêu, ở bản Hồng Cúm xã Thanh An, có 19 người thì chết 14 người; gia đình ông Lường Văn Cu ở bản Huổi Cánh, xã Thanh An có 7 người thì chết cả 7 người…!”.

Cụ Quàng Văn Pánh lụ khụ ở tuổi ngoài chín mươi rồi mà khi nhắc đến nỗi đau thảm sát Noong Nhai, cụ vẫn sôi sục: “Bom cháy xong thì bố (tức ông Pánh) đi xem mà. Con trâu chết bao nhiêu (rất nhiều), con lợn chết bao nhiêu, mà người cả ở trong hầm cũng chết bao nhiêu. Bố sợ cái bom gì biết cháy ấy lắm. Bố vẫn hay mê ngủ thấy những người chết cháy hôm đó. Người ta vẫn đứng lên được, nhưng da thịt thì đen xì, cái tay co co giật giật như là đã bị thui chín. Cứ đứng tựa lưng như thế, cứ co co giật giật như thế một lúc thì họ chết. Bố nhìn cũng không nhận ra người hết cháy đó là ai nữa. Mấy ngày sau nhiều thây người vẫn chưa được chôn cất. Cũng không ai được đắp mồ mả gì đâu, cứ sẵn hố bom đấy, sẵn hầm hào đấy mà vùi người ta xuống, lấp đất lên thôi. Mấy trăm người chết một lúc… Tức lắm, tức lắm!”. Ông Lò Văn Ing, người Thái, 67 tuổi, người gốc ở bản Noong Nhai, người đã chứng kiến từ đầu đến đuôi vụ thảm sát, kể: Bom ngớt, mặc lửa cháy, chúng tôi chạy đi tìm người thân. Tôi tận mắt chứng kiến một cảnh mà đến giờ phút này tôi vẫn chưa một lần dám kể lại cho ai nghe, ấy là cảnh một người phụ nữ Thái bị một mảnh bom tiện toác bụng, ruột lòi ra phập phồng. Tôi nhìn ra thì thấy một con lợn đói của khu tập trung bên cạnh đang thò mõm vào, lôi ruột chị ra để… ăn. Tôi sợ quá chạy, chạy rồi gặp một hố bom sâu, dưới đó có một người đàn bà không bị cháy xém do bom napan, chị bị bom sát thương quật chết. Có lẽ người chị đã lạnh ngắt rồi, nhưng đứa trẻ nằm trong vòng tay chị thì vẫn ngậm miệng vào bầu vú trần của mẹ mà nhoay nhoay mãi để tìm sữa. Sau khi vơi bom đạn, sư đoàn 316 phải huy động các chiến sỹ đến Noong Nhai gom xác người đi chôn trong các hố tập thể. Sẵn hố bom, nhiều người ẩy cả xuống đó mà lấp đi. Bà con lấm lét trở về, bản làng hoang tàn, cán bộ đến cho dầu, cho muối, cho cày cuốc rồi dựng túp lều tranh để tiếp tục sống làm người. Nhiều người quần áo bị bom na pan thiêu cháy hết, trần truồng đói khát trở về, họ nhặt miếng vải dù rơi ra từ tàu bay Pháp mà che thân.

Tôi vẫn nướng cá suối, tước cơm lam rồi giót rượu mời những người đến từ nước Pháp

Không biết nói lấy một câu tiếng Kinh, người đàn bà Thái Lò Thị Én tất nhiên không có tầm mắt nhìn bao quát cả vụ thảm sát này, nhưng bà là người trong cuộc, thịt da bà đã hoà vào thịt da và máu lửa của 444 người nằm lại với Noong Nhai. Và, trong bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ ở TP Điện Biên hôm nay, chỉ có một mình bà én là nạn nhân được trưng bày qua… ảnh. Bức ảnh bà én bấy giờ quãng gần 30 tuổi đang ngồi bên bếp lửa khói um, trước mặt bà là khung cảnh hoang tàn đổ nát với những thân tre gỗ cháy xém còn lại sau trận bom sát thương kết hợp với bom napan ngày 25/4 định mệnh. Bà én ngồi quay bờ vai trần của mình lại phía ống kính. Bờ vai trần tròn lẳn đã bị sần sùi cháy xém do bom Napan! Bà én cầm tấm ảnh, kể bằng tiếng Thái: “Lúc trưa hôm ấy, bom nó ném mẹ (bà Én) đang ở trong hầm, và bị cháy lưng. Cũng chẳng chữa chạy gì nhiều, cứ kệ nó, cứ cuốn khăn vào để che vết bỏng đi cho nó đỡ… xấu thôi mà. Không hiểu tại sao cái vết thương do lửa napan nó lâu lành mến thế! Mẹ cuốn khăn mất đúng một năm trời, đến năm 1955 vết thương mới… không phải cuốn khăn nữa”. Họ hàng anh em nhà bà rất nhiều người đã chết, bà sống sót được là ơn tổ tiên lắm rồi. Đối với nạn nhân Lò Thị Phanh, cuộc sống cõng theo hậu quả của trận bom độ ấy thật nặng nề. Sau khi bị cụt hai chân, cô gái 13 tuổi cũng định cam phận tàn tật ở vậy suốt đời với gia đình. Nhưng rồi thời gian nguôi ngoai đi, khát khao làm mẹ, khát khao được một lần nếm trải tình yêu đã xoa dịu nỗi mặc cảm trong cô. Và, như bà con vẫn nói, chị Phanh đã xin của người đàn ông nhân ái nào đó một đứa con. Cháu trai ấy giờ đã trưởng thành, đã có công ăn việc làm, và lấy vợ đẻ cho bà cụ cụt hai chân những đứa cháu nội. Âu cũng là một cái kết có hậu.

Những dòng tư liệu ngắn ngủi mà chị Vân, Phó Giám đốc bảo tàng tỉnh Điện Biên đưa cho tôi xem, viết: “Sau 3 ngày số người chết (444 người) vẫn không được đem chôn vì… không còn ai sống sót”! Có lẽ, trong lịch sử phát minh ra chữ nghĩa của loài người, khó có dòng chữ nào xót xa hơn thế! Đã một thời, khu mồ chôn tập thể ở Noong Nhai này hiu hắt và ma quái khủng khiếp trong ký ức của cộng đồng cư dân sống trên đất Mường Then cổ. Trên sự ai oán của 444 xác đàn bà, người già, trẻ em ấy, người bản xứ dựng lên một cái lều con con để tưởng nhớ, và cũng là để an ủi nỗi sợ hãi của những người đang sống mỗi khi nghĩ đến cái ngày 25/4 hãi hùng.

Điện Biên thời mới, giữa niềm vui đổi mới, giữa khát vọng hàn gắn vết thương cũ hôm nay, xin hãy nhớ tới họ: 444 con người bị băm, bị đốt vô lý trong một vụ thảm sát có lẽ là dã man nhất với số lượng người chết nhiều nhất trong lịch sử các dân tộc ở vùng đất địa đầu mênh mông của Lai Châu (cũ). Thật lòng, tôi luôn nghĩ, cho ra đời một cuốn sách, một bộ phim, hay ít ra là viết những dòng tư liệu lịch sử, bảo tàng chi tiết, quy mô về vụ thảm sát Noong Nhai này là cực kỳ cần thiết, là một nghĩa cử để ta có một niệm khúc Noong Nhai, để hiểu và cảm thông hơn với số phận của hàng trăm đồng bào xấu số ngày ấy. Cũng là để ta hiểu chính mình hơn: không có ai là vô danh cả.

Đồng chí nguyên Chủ tịch xã Thanh Xương buồn bã vì bao nhiêu lần người ta về điều tra rồi bỏ bẵng với cái dự án ghi chép tư liệu và có hình thức tưởng nhớ xứng tầm với vụ việc 444 đồng bào Thái bị thảm sát… Buồn, giận, tủi; nhưng ông cũng không giấu vẻ tự hào. “Bao năm tôi làm lãnh đạo xã. Có nhiều ông bà người Pháp về đây tìm hiểu. Tôi đau đớn vì những gì tôi tận mắt trông thấy trong vụ thảm sát lắm, song, tôi vẫn nướng cá suối, làm cơm lam và giót rượu đưa tận tay mời họ. Họ chắp tay cảm ơn tôi, nói rằng thực dân Pháp xưa đã gây cảnh đau đớn quá thể cho dân bản, không ngờ bà con bây giờ tốt với người đến từ nước Pháp thế. Tôi bảo, chuyện ấy là quá khứ qua rồi. Nhiều lính Pháp nằm lại trong lòng chảo Điện Biên này, cũng tang thương lắm. Họ có khi cũng chỉ là kẻ bị ép tòng vào lũ lính viễn chinh đi gây hận thù, cha mẹ vợ con họ cũng chân chất như cha mẹ vợ con của chúng tôi, nhiều người đã nằm trong số 444 nạn nhân xấu số của trại tập trung Noong Nhai thôi. Chúng tôi ám ảnh nỗi đau chiến tranh suốt đời, giờ chỉ biết cầu trời giúp cho không còn nơi nào trên hành tinh này có cảnh giết chóc như Noong Nhai này nữa. Cậu người Pháp ấy ôm lấy tôi mà khóc: mẹ tôi cũng dệt vải như người Thái ở Mường Thanh n ày thôi, bố tôi làm ở công ty đào than rồi chuyển sang dạy học.

Advertisements

About doanhoang75

Journalist at Lao Dong newspaper
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s