Trò chuyện dài với “Giáo sư sử học” Lê Văn Lan (khi đăng báo Tết, bản thảo này đã được Hắn gọt đi quá nửa!)

Câu chuyện chân thành, đôi lúc hài hước, cũng có lúc “giáo sư” sử học bật khóc nức nở với những chiêm nghiệm về tuổi già, về lòng hiếu với tổ phụ, những trăn trở bởi bước chân của tiền nhân lưu cho mai hậu… khiến người phỏng vấn lúng túng không biết phải hành xử ra sao. Ở cái tuổi 75 này, tôi vẫn tự do, và vẫn… tự lo (cho bản thân mình), bữa đến ra… quán. “Hôm nay tôi mời anh ăn ở cái quán Tây đầu tiên, ở khu phố Tây đầu tiên của Hà Nội, phố Hăng-ri-vie ngày xưa, phố mang tên cái ông người Pháp bị bắn chết ở mạn Cầu Giấy – giờ là phố Ngô Quyền”. Nhân viên trong quán cúi rạp chào “thầy Lan”, chào “Giáo sư” sử học với cái đầu rù dễ nhận ra; rồi họ tủm tỉm lắng nghe giọng nói khúc chiết, nhấn nhá có sức mê dụ của vị khách đem theo thẻ VIP.
Câu chuyện của chúng tôi rất thật thà, kéo từ tệ xá qua suốt những cung đường thủ đô, đến hết bữa tối hàn huyên “trăm thứ chuyện” ở quán Tây đầu tiên trên phố Tây đầu tiên của Thủ đô Hà Nội:




Căn phòng chật nhất, nhiều sách nhất mà tôi từng biết. Phòng chỉ đủ chỗ "tọa đàm" cho duy nhất 1 vị khách nữa (bên cạnh chủ nhà). Đoàn khách của Bí thư Thành ủy Hà Nội đến thăm "Giáo sư Lan" cũng phải "đứng đàm" vì không có chỗ ngồi. Câu chuyện của nhà sử học có quá nhiều nỗi buồn, sự đơn độc và không ít… điều không thuận tai "người ta". …

Người Hà Nội ấy đã trở thành “của hiếm”…

Thực hiện: Đỗ Lãng Quân

Vị “Giáo sư sử học” được dân và quan cùng… “gọi nhầm”!

Đầu tóc hơi bù rù, cái kiểu đặc sệt “Lê Văn Lan” mà quá nhiều người đã biết; ông cho tôi diện kiến trong tệ xá (theo đúng nghĩa đen!) khi ông vừa từ Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô trở về. Ông còn lấy bấy lắm, bởi ca phẫu thuật cắt bỏ… túi mật. “Tôi cảm ơn các bác sỹ lắm, tôi trực tính, suốt đời bị hiểu là to gan lớn mật dám can gián đủ thứ chuyện dễ làm ra “vạ miệng”, nay các vị cắt cho tôi cái mật, thế là tôi biết sợ. Thế là tôi sẽ bớt đi bao nhiêu tai vạ” – nhà sử học tủm tỉm cười. Tôi tếu táo bảo, ông giống Khương Duy văn võ toàn tài trong Tam Quốc Chí, dũng mãnh quá, kẻ thù bắt được bèn mổ bụng xem mật “hắn” to đến thế nào; lại giống đệ nhất sứ thần Giang Văn Minh bị vua Tàu mổ bụng rồi vẫn còn trọng cái khí tiết của kẻ sỹ biết giữ quốc thể và phẩm cách con người mình, bèn cho nhồi thuỷ ngân vào bụng rước về quê Đường Lâm mai táng. Nghe xong, ông Lê Văn Lan giật thột, ấy chớ, tôi không dám ví von với các bậc trượng nghĩa thế đâu. “Tôi năm nay sang tuổi 75, cái tuổi đến “cõi” như con gà đang về chuồng mất rồi. Tôi tuổi Tý, thế nên trong tệ xá quá bé nhỏ với cầu thang gỗ cũ mọt và những ô kính vỡ phải dán bằng băng dính này, tôi trưng bày rất nhiều con mèo đồ chơi. Dùng mèo để tự răn con chuột là bản thân… tôi. Nay đi viện cắt bỏ một túi mật, nó ứng vào kiếp phận, chuột khi sợ cái gì quá thì nó tự tan mất mật vào cơ thể mình”.

Thư phòng của ông Lan là một cái ngớ người rất sửng sốt của nhiều vị khách, nó bé tới mức, khi ông ngồi tiếp khách, vút lên trời, tràn hai bên là thiên la địa võng sách vở. Nếu có 2 vị khách cùng đến, thì nhất định một người phải đứng ngoài cửa. Lần nào tôi và ông ngồi đối thoại, cả hai đều không dám quờ quạng, xê nhích cái tay cái chân tí nào, kẻo sợ kho sách sập xuống sẽ vùi cả hai trong muôn thứ “cổ sử” nặng nề. Năm vừa rồi, Tết, ông Phạm Quang Nghị đến thăm tôi với tư cách là Bí thư Thành uỷ Hà Nội, đoàn tuỳ tùng không thể có chỗ ngồi, các cô văn phòng phải ôm hoa đứng ngoài tất. Ông Nghị nhanh trí tếu táo: “Thôi, chúng ta “toạ đàm” mãi rồi, hôm nay đến thăm Giáo sư Lê Văn Lan, chúng ta “đứng đàm” một hôm cho nó khác kiểu”. Tôi lại nhớ ra một điều, hàm “Giáo sư” của tôi là do “dân phong” chứ tôi có phải là giáo sư đâu. Đi cái xe Dream “nghĩa địa” tự tôi chọn, tự tôi mua từ “bãi rác” (đã qua sử dụng) bên Nhật mang về đã 14 năm ròng – kết quả của mấy tuần thỉnh giảng về Đông Phương học cho người Nhật -nay, bị công an tuýt còi, xem chứng minh thư xong, các đồng chí đều cười: xin mời “Giáo sư” Lê Văn Lan đi… tiếp. Có nhiều vùng, tôi đã thử “thí nghiệm”, có khi 75%, có khi tới 90% số người tôi gặp, vừa gặp là nhận ra “Giáo sư sử học” Lan ngay. Tôi viết bài, đứng tên cho nhiều chuyên mục của báo, chí, truyền hình – dĩ nhiên là tôi không là Giáo sư, chả bao giờ tôi đề chức danh “Giáo sư sử học” vào trước cái tên cúng cơm “Lê Văn Lan” cả. Thế nhưng, ban biên tập họ cứ tự ý thêm hai chữ “GS” vào trước tên tôi. Dân nhầm, nhà báo nhầm, công an nhầm, rồi quay lại chính đồng chí Bí thư Thành uỷ cũng… nhầm, tôi chẳng biết làm sao, đành “vui vẻ nhận lời thôi”.
Câu chuyện chân thành, đôi lúc hài hước, cũng có lúc “giáo sư” sử học bật khóc nức nở với những chiêm nghiệm về tuổi già, về lòng hiếu với tổ phụ, những trăn trở bởi bước chân của tiền nhân lưu cho mai hậu… khiến người phỏng vấn lúng túng không biết phải hành xử ra sao. Ở cái tuổi 75 này, tôi vẫn tự do, và vẫn… tự lo (cho bản thân mình), bữa đến ra… quán. “Hôm nay tôi mời anh ăn ở cái quán Tây đầu tiên, ở khu phố Tây đầu tiên của Hà Nội, phố Hăng-ri-vie ngày xưa, phố mang tên cái ông người Pháp bị bắn chết ở mạn Cầu Giấy – giờ là phố Ngô Quyền”. Nhân viên trong quán cúi rạp chào “thầy Lan”, chào “Giáo sư” sử học với cái đầu rù dễ nhận ra; rồi họ tủm tỉm lắng nghe giọng nói khúc chiết, nhấn nhá có sức mê dụ của vị khách đem theo thẻ VIP.
Câu chuyện của chúng tôi rất thật thà, kéo từ tệ xá qua suốt những cung đường thủ đô, đến hết bữa tối hàn huyên “trăm thứ chuyện” ở quán Tây đầu tiên trên phố Tây đầu tiên của Thủ đô Hà Nội:

Phố cổ Hà Nội và một kỷ lục thế giới!

– PV: Thời gian cứ trôi vùn vụt, ngùn ngụt bao nhiêu dự án lớn “ta xây nhà cao, cao mãi”, phố cổ (hay là phố cũ) Hà Nội và kế hoạch tôn vinh di sản này đang khiến nhiều ngườii chán nản. Sinh ra ở phố cổ Hà Nội, 75 năm qua liên tục gắn bó với góc Hà Thành hoa lệ thì rất hoa lệ, nhếch nhác thì rất nhếch nhác này, nhà sử học Lê Văn Lan chắc rất trăn trở và…

– Ông Lê Văn Lan: Người ta đã sử dụng phố cổ Hà Nội sai mục đích và chức năng của nó. Lẽ ra đó là nơi đến để tham quan, nghiên cứu, học tập thì người ta biến nó thành nơi để buôn bán. Mà phàm đã là buôn bán là có chuyện lợi ích, tiền bạc, eo sèo. Người ta sẽ nhân danh lợi ích của người ta, để “sống chết” với những giá trị của “đồng tiền bát gạo” đó. Cả sự giàu sang, cả sự ăn chơi nhảy múa của người ta là trông vào cái chỗ “mặt tiền” buôn bán kia. Đó là chuyện của những người “nhà mặt phố”. Nghĩa là, đáng lẽ không gian đó phải “y cựu” (như cũ, bảo tồn); thì người ta lại biến nó thành nơi toàn người mua và người bán, thế là sai về phương pháp và mục đích bảo tồn rồi!

– PV: Thưa, chúng ta có nệ cổ quá không khi bắt Hà Nội phải “y cựu” mà không nên buôn bán? Ta thử nhìn lại, Hội An (và nhiều đô thị khác) vẫn là Di sản văn hoá của nhân loại, vẫn đang kinh doanh, rất tốt, đang bảo tồn rất tốt, nó là một đô thị đang sống thật sự đấy chứ.

– Ông Lê Văn Lan: Hội An vẫn phát triển được vì họ không có vấn đề “nóng bỏng” mà phố cổ Hà Nội đang vướng. Tức là quy mô dân số của Hội An có quy mô… vừa phải, thích hợp với diện tích của nó. Trong khi đó, cái gọi là phố cổ Hà Nội, nó là sản phẩm của lối quy hoạch “khoanh vùng bảo vệ” rất tuỳ hứng, nếu không nói là tuỳ tiện. Họ không tính đến cái việc rằng, không gian ấy nó thích hợp như thế nào với số người ở trong ấy. Kết quả là chúng ta đã có một kỷ lục ghi-nét: Mật độ dân số tính trên cây số vuông ở phố cổ Hà Nội đông nhất thế giới!

– PV: Như ông nói, không lẽ cái quy hoạch để bảo tồn phố cổ ở Hội An lại thông minh hơn Thủ đô ta?

– Ông Lê Văn Lan: Người ta đã khoanh vùng bảo vệ cho Hội An một cách khá là thông minh. Và, đến bây giờ, sự phát triển của Hội An đến chỗ “cơ thể” lớn dậy sắp không vừa với “cái áo” trước đây nữa, thì người ta bắt đầu xây ngoại vi cho nó, thậm chí người ta làm mới cả con đường thênh thang ven biển tuyệt đẹp (dài khoảng 20km), nối thẳng từ Đà Nẵng vào đến Hội An. Người ta may cho nó cái áo mới. Nhưng phố cổ Hà Nội này thì cứ chờ mãi để được may áo mà không… có.

– PV: Ông có nghĩ rằng, dự án chậm chạp, trong khi cuộc sống trong phố cổ quá chật hẹp, bừa bộn, tội nghiệp như thế – nó sẽ làm cho di sản bị “xuống dốc” nhanh chóng về mặt bảo tồn?

– Ông Lê Văn Lan: Thật ra thì cơ quan hữu trách cũng có trách nhiệm, nhưng họ bó tay trước những cái mà “người ta” để lại. Tức là, họ lĩnh đủ những cái mặt trái mà họ đã không lường đến sau khi họ quá “tuỳ hứng” trong những quy hoạch, hoạch định của họ trước đó.
Thật ra thì “tiến độ” chăm sóc di sản phố cổ cũng tiến triển đến độ có “quy định”, phân loại khá rành mạch rồi đấy. Đã xếp cả cái chuyện thành phần nào thì cưỡng chế di dời, thành phần nào thì được đền bù, thành phần nào thì được hỗ trợ trong các tiểu mục (như giãn dân) của dự án bảo tồn phố cổ Hà Nội rồi đấy. Hình như đã có khoảng 1.600 hộ được “đếm” vào 3 cái diện đó rồi mà. Số phận người dân trong số cổ thì tôi đã nói rồi, đó là một địa ngục trần gian, chứ chưa phải là di sản thế giới như người ta đã định đề nghị phong tặng cho nó. Tôi có rất nhiều người bạn cùng lứa tuổi đang sống ở đó, lần nào thấy tôi đi qua họ cũng kéo vào than thở, lại nhắc lại cụm từ “địa ngục trần gian”…

Bi kịch của những thị dân “non” và… hip-hop!

– PV: Xin hỏi, cái văn hoá của người Hà Nội mở rộng bây giờ có gì khác so với thời ông còn trai tráng? Hà Nội đã trở nên quá chật hẹp với những tuyến phố có thể tắc đường bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào, vì bất cứ lý do gì…

– Ông Lê Văn Lan: Trong rất nhiều bài nghiên cứu và sách báo tôi đã nói, rằng: cái đô thị cổ của Việt Nam, là tiền thân của các đô thị bây giờ, thực chất nó chỉ là những hòn cù lao nổi lên trên đại dương của ba chữ “nông” mà tôi dùng thời đó (nông thôn, nông nghiệp và nông dân – bây giờ ta quen gọi gọi là Tam Nông). Việc so sánh cù lao giữa đại dương, đủ thấy vị thế của cái đô thị ở nước ta rồi. Đấy là chưa kể, về thực chất, cái chất lương đô thị ở đó, chỉ là những “đô thị non”, người sống ở đó là những thị dân “non”. Chúng ta không có tầng lớp thị dân cha truyền con nối, thường là những người giàu sổi ra đô thị theo quan niệm “nhà giàu kẻ quê, không bằng ngồi lê kẻ chợ”. Thế thì ra kẻ chợ ngồi lê cũng được, chớp lấy một ít, tay nải vận vào, cắp hầu bao về quê tậu đất, xây nhà. Thì đó là cách khai thác đô thị của thời xưa và do đó thì đô thị không thể khá lên được.

– PV: Vâng, giữa bối cảnh đó, cái chất người Tràng An đã thay đổi như thế nào, thưa ông?

– Ông Lê Văn Lan: Tôi đã nhiều lần đi nói chuyện về một cái ví dụ như thế này, có vẻ như rất được mọi người tán thưởng. Có một anh, anh ấy được bố mẹ để lại cho một cái nhà mặt tiền ở trên phố, thế là anh đem anh dựng cái cửa sắt lại, anh xây tường lên, anh không tính đến cái chuyện: thằng ở từ xa, thằng ở bên cạnh, thằng làm nghề này nghề kia, nó đều rất hám cái mặt tiền ấy của anh. Anh không biết chuyện đó, anh chỉ tự hào mặt tiền của ta giàu và đẹp, anh cứ đóng cửa lại ngồi ở đấy. Rồi có thằng quá sốt ruột, nó cạy cửa nó vào, nó dùng gậy gộc nó phá, nó đòi chỗ ấy của anh. Thế thì anh lại ứng xử theo một cái cách rất cổ truyền và được ca ngợi, thế là anh đánh nhau với nó. Anh không đánh mãi được đâu, cho dù cái đánh đó là cực kỳ anh dũng, cực kỳ đáng tự hào. Anh phải mở cửa. Nhưng cái thế ứng xử của anh là: anh là cái ngã tư của các dân tộc, các nền văn hoá, thì anh không thể cứ mãi đứng đó với cái gậy giơ lên được. Anh phải đón nó vào thôi. Nhưng đón cách nào để anh không mất cái mặt tiền của anh, không mất chính anh?! Đó là cái vấn đề lớn mà không phải ai cũng nhận ra.
Từ chỗ khư khư cố thủ, đóng cửa, giơ gậy lên đánh, giờ anh mở toang cửa ra, ta “đớp” (dùng chữ đớp ở đây rất là hay!), ta “đớp” cả cái hay đã đành, ta đớp cả những cái cặn bã nữa. Tôi đã gặp rất nhiều những người Mỹ, họ nói với tôi, rằng không hiểu sao rất nhiều cái ở bên chỗ chúng tôi là rác rưởi, hip-hop là rác rưởi, nhưng mà vào Việt Nam thì hip-hop lại được trọng vọng như thế. Ở nước ngoài, hip-hop, hầu hết chỉ có dân “đầu đường xó chợ” mới dùng. Lại còn rap nữa, ầu àu ầu àu, lêu lêu lêu lêu, tiếng của (hầu như) những kẻ đầu đường xó chợ đấy chứ. Tôi vừa rồi gặp ông nhạc sỹ nổi tiếng, ông ấy kêu, phố xá đẹp rồi yêu Hà Nội gì đó, nhưng ngồi ăn với nhau thì “you anh me” (anh và tôi, tiếng Anh), tôi bảo, ta thiếu gì cái chữ để gọi Anh và Em. Ta thiếu gì chữ để gọi Tuổi Hồng, Tuổi Thơ, Tuổi Xanh, xưa nay ta vẫn gọi, giờ lại phải “teen”!
Văn hoá, sự du nhập, theo đúng quy luật là phải có màng lọc, lọc xong rồi có quy trình thứ hai là tinh kết, chứ đừng để lọc xong rồi nhưng vẫn còn lổn nhổn. Hai cái quy trình này, ít ai tính đến cả, chỉ “đớp” và nuốt.

– PV: Sắp đại lễ nghìn năm Thăng Long – Hà Nội, ông tham gia (giám sát) về mặt văn hoá từ đầu đến giờ (đã nhiều năm), ông nghĩ gì khi thấy báo chí đang kêu trời: hệ thống di tích bị bị “trùng tu tôn tạo” kiểu làm mới quá bi hài, xót xa?

Ông Lê Văn Lan: Các nhà quản lý đang rất thích dùng một khẩu hiệu. Đúng ra là người ta tìm thấy, và đưa ra khẩu hiệu đó một cách rất sung sướng. Đó là xã hội hoá công tác trùng tu tôn tạo di tích. Cái xã hội hoá ấy được người ta đưa ra trong cái thế… vớ được khẩu hiệu này là họ sướng quá rồi! Nhưng mặt trái của nó là rất khủng khiếp, như anh nói.
Tôi ví dụ với di tích hàng đầu của Thăng Long – Hà Nội, đó là Hoàng thành Thăng Long. Tôi quan tâm, kiến nghị liên quan đến di sản này từ rất lâu, đã trải qua… 4 đời Bộ trưởng Quốc phòng rồi. Thậm chí tôi phải khóc ở chỗ này, viết tham luận ở chỗ kia, viết kiến nghị gửi lên Quốc hội và nhiều cơ quan ở chỗ nọ. Nhưng mà, cái Hoàng Thành cứ như thế thôi. Ai cũng thấy rồi, bây giờ ta đã co lại chỉ còn lấy Đường Thần Đạo ở giữa thôi Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu ấy, chỉ có thế mà cũng không xong.

Số phận của những anh “mỹ quan” thời La Mã cổ

– PV: Chúng tôi thấy rằng, bằng tri thức lịch sử, tâm huyết và sự dũng cảm thường thấy ở các sử gia chân chính, ông Lê Văn Lan và một số người am hiểu văn hoá lịch sử đã được bà con xem như những gián quan tích cực, giám sát, “kiến nghị” về nhiều vấn đề nóng của xã hội. Ông có nghĩ mình cũng là một “gián quan” của thời cuộc không?

– Ông Lê Văn Lan: Tôi nhớ tác phẩm của một tác giả từng đoạt giải Nobel, khi ông dựng lại một cái triều đình tiêu biểu thời La Mã cổ. Gồm có anh chấp chính (vua), anh quân sự, anh mỹ quan (tôi rất tâm đắc với cách dùng từ mỹ quan ở bối cảnh này, anh mỹ quan nào cũng… yêu cái đẹp và…). Ví dụ anh chấp chính muốn xây phủ đệ, đốt kinh thành, tuyển cung nữ thì luôn có thằng mỹ quan nó lo cái việc đó. Nó khuyên răn, ngăn cản, theo mỹ quan của nó. Hoặc, khi Ne-ron bạo chúa, làm thơ quá dở mà vẫn cứ muốn làm, thậm chí còn đốt kinh thành để lấy cảm hứng làm thơ, thì thằng Mỹ quan đó nó sẽ can ngăn. Trong tác phẩm của tác giả đoạt giải Nobel kia, nhân vật Mỹ quan đã được ban cho ân huệ “mở mạch”, tức là dùng dao cắt mạch máu mình rồi ngâm tay vào chậu nước cho máu ra đầy hết cái chậu rồi chết. Cũng may là ông Mỹ quan đó được “mở mạch” bên cạnh người đẹp của ông ấy, cùng với người đẹp chứng kiến cái chết đó. Số phận của mỹ quan là thế! (cười).

PV: Tôi đang tự hỏi, “ông mỹ quan” Lê Văn Lan đã tham gia can gián những vụ nào thành công nhỉ?

Ông Lê Văn Lan: (Cười) … chả thành công bao giờ. À, mà cũng có vài vụ thành công chứ nhỉ. Ví dụ vụ Chợ Âm Phủ, sau khi các nhà khoa học, văn hoá, lịch sử đồng loạt lên tiếng, thì dự án xây dựng Trung tâm thương mại trên nấm mồ tập thể “nổi tiếng” của các nạn nhân chiến tranh thời kháng Pháp ở ngay tại Thủ đô đã dừng lại. Tôi có can gián. Vụ đền thờ Lý Thái Tổ, vụ Hoàng thành Thăng Long giờ cũng khá thành công rồi đấy.

– PV: Có lẽ do hậu quả của việc mải mê làm “gián quan”, lại nhiệt tình “hoá giải” các sự kiện, câu chuyện lịch sử cho mượt mà, dễ nhớ giúp bà con, cho nên đi đến đâu “Giáo sư sử học” Lê Văn Lan cũng bị (được) nhận ra?

Ông Lê Văn Lan: Tôi đã thử đếm tỷ lệ, rằng, vùng này 90%, vùng khác 75% số người tôi gặp đều nhận ra mặt và cười với tôi rất thoải mái. Hình như là tôi được họ thích. Có những người họ còn hâm mộ đến mức nhảy bổ vào, bắt tay, xin chữ ký rất nhiệt thành. Tôi đã tự hỏi: thế thì tại sao mà họ thích mình như thế nhỉ? Rồi tôi thử giả lời: không phải tôi nói những điều to lớn, nhưng tôi đã nói cái mà họ quan tâm: thí dụ, bà Lý Chiêu Hoàng có đáng thờ không, sẽ phải thờ như thế nào? Tại sao Cao Bằng có họ Bế Nguyễn, Nguyễn Bế, có phải ông Nguyễn Trãi chạy lên đó cải họ thành người vùng cao hay không? Có anh đang nhậu nhoẹt ầm ầm, đố nhau là ông Trần Hưng Đạo lấy công chúa Thiên Thành, như thế có phải là lấy chính bà cô mình không? Mỗi ngày tôi phải làm Tổng đài 108 về lịch sử, “tiếp chiêu” cho dăm chục cuộc điện thoại kiểu như thế.

Gương mặt quen thuộc với khán giả Truyền hình Việt Nam

– PV: Bà con, công chúng biết đến ông, có phải phần nhiều do ông là gương mặt quen thuộc của các Đài Truyền hình? Chương trình hợp tác với truyền hình nào mà ông cho là, qua đó, ông đã đem lại nhiều bổ ích nhất cho công chúng?

– Ông Lê Văn Lan: “Đường lên đỉnh Olympia”. Tôi, có thể nói là “khai quốc công thần” của chương trình đó. Bây giờ, vì nhiều lý do, tôi chỉ tham gia “cố vấn” cho những nội dung mà ban tổ chức đưa đến, tôi không có thời giờ ngồi hò hét cổ vũ như trước nữa. Tôi giờ “ngồi” một cách rất tâm đắc cho chương trình “Nghìn năm Thăng Long” của Đài Hà Nội. Tôi giữ mục nhiều năm ở Báo “Khoa học và đời sống”, cứ 99 bài của chuyên mục mang “phiên hiệu” (gương mặt) tôi thì in ra được thành một quyển sách. Tôi cũng làm nhiều năm đắc ý với báo chí là mục “Người kể chuyện lịch sử” cho các em, ở trên báo Thiếu niên Tiền Phong, vừa rồi kỷ niệm nửa thế kỷ thành lập báo, tôi được mời phát biểu với tư cách là CTV đặc biệt và họ xác nhận là tôi đã làm được 500 bài cho họ. Chúng tôi muốn đưa các kiến thức lịch sử đến cho mọi người bằng những câu chuyện thú vị, hàm súc, chứ đừng thuyết lý. Trẻ em và người lớn, đặc biệt là các cô giáo rất thích lối “kể chuyện lịch sử” này. Một lần, tôi là đại sứ thiện chí trong một chương trình đặc biệt, cùng là “đại sứ” với tôi có NSND Lê Khanh, tôi và người đàn bà rất rất đẹp, rất rất tài năng cùng ngồi đó giao lưu với các cháu học sinh. Cô Lê Khanh xinh đẹp, tài năng nổi tiếng thế, nhưng chả hiểu sao, bọn trẻ con nó chỉ kéo rất đông đến chỗ tôi để hỏi chuyện lịch sử. Lê Khanh “thưa thớt” khách, mới đùa bảo, từ sau em không đi với thầy nữa (cười).

– PV: Thoắt ngoảnh lại, chương trình đầu tiên ông hợp tác với Truyền hình Việt Nam, cách đây đã hơn hai chục năm ròng…

Ông Lê Văn Lan: Chương trình đầu tiên của tôi với truyền hình là “Việt Nam đất nước con người”, từ năm 1989, ngay những năm đầu thành lập truyền hình… Tiếp sau đến “Dư địa chí truyền hình”. Khi làm cái đó, một thầy một trò, một lái xe, cô đạo diễn Hồng Trang kiêm luôn cả quay phim. Chiếc Xe Rumani vừa đi vừa đẩy, cái ông lái ấy giờ vẫn làm ở Truyền hình Việt Nam, thỉnh thoảng gặp tôi, hai ông vẫn ngoác ra cười chào rất vui vẻ. Cái cô-ta, 100 phim “Danh nhân đất Việt” tôi cũng thiết kế, tham gia tích cực từ ý tưởng đổ đi, dự định làm 100 phim, nhưng chúng tôi đã làm hơn 150 cái rồi.

– PV: Ông nghĩ thế nào, khi mà, trước sự “thờ ơ”, “kém cỏi” đến mức khó tin về lịch sử nước nhà của không ít học sinh và những người trẻ, dân gian đã truyền miệng một câu “ca dao” chua xót: “Dân ta phải biết sử ta, cái gì không biết thì tra google” (google là dịch vụ tìm kiếm thông tin hàng đầu trên mạng internet)?

– Ông Lê Văn Lan: Chết cái là mạng tìm kiếm trên internet có nhiều cái sai khủng khiếp, trong khi, kiến thức lịch sử với những con số, chi tiết cần đặc biệt chính xác. Đấy là chưa kể có những cái thứ mà người ta tạo lập trên mạng tìm kiếm nào đó, có thể có dụng ý không tốt… (…) – tôi sẽ nói điều này ở một dịp khác. Tôi nghiệm thấy, có nhiều người gọi điện đến hỏi, tôi trả lời họ nhiều chi tiết và số liệu về lịch sử, họ bảo chết thật thế này thì thông tin trên mạng internet sai rồi. Họ bảo, sau khi tìm kiếm bằng “mạng” xong, họ cảm thấy nghi ngờ internet, họ đành phải gọi cho tôi.

– PV: Chúng tôi được biết, nhiều người giải đáp kiến thức cho công chúng, họ cũng không phải là cái bồ chữ nhớ tuốt tuột mọi thứ, họ cũng tra thông tin trên internet, kho kiến thức vô tận của nhân loại, cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia. Ông làm “tổng đài” cho bà con, ông sử dụng công cụ gì là chính?

Ông Lê Văn Lan: Công cụ của tôi là sách. Đôi khi, không ngoại trừ trường hợp, quyển sách nào đó, nó cũng (có thể) sai ở chi tiết nào đó. Chính vì thế mới cần nhà nghiên cứu, anh phải có phương pháp, có trình độ thẩm định. Bà con người ta tin vào nhà nghiên cứu, nhà chuyên môn là vì thế. Đó là chức năng của nhà nghiên cứu. Đó cũng là lý do mà bây giờ rất nhiều nơi, nhiều người họ kéo tôi vào các hội đồng tư vấn, thẩm định các công trình sách vở của Trung ương, Hà Nội, thậm chí của các công ty, các chương trình rất nhiều.

“Chỉ còn lại đây những sáng bao la…” của Trịnh Công Sơn

– PV: Nói gì thì nói, cùng với việc tha thiết lên Sao Hoả, Cung Trăng, chế tạo tên lửa vũ trụ tối tân, việc hiểu lịch sử, hiểu từng bước đi của cha ông, tổ tiên mình vẫn là một nhu cầu không thể thiếu của nhân loại. Việc “về nguồn”, nó cũng quan trọng như việc xông lên các giá trị văn minh kỹ trị vậy.

– Ông Lê Văn Lan: Tôi tiếp xúc với nhiều dân tộc trên thế giới, trong đó có cả những cái dân tộc nhưng nó vẫn chưa là dân tộc, tôi nhận thấy một điều rằng: không ở đâu có tinh thần, tâm hồn ham chuộng lịch sử như ở ta. Sự ham chuộng, yêu thích, thậm chí cay cú về lịch sử có thể nói là một đặc điểm “tính dân tộc” ở nước ta. Có cụ 80 tuổi vừa sai con đưa đến đây gặp tôi, ông ôm theo một chồng tài liệu công phu, ông con nói thay lời ông bố yếu ớt: bố tôi sắp chết, cụ đưa tài liệu nhà tôi cho “Giáo sư” đọc và nghiên cứu giúp, họ nhà tôi 5 đời là tiến sỹ. Ông cụ chỉ muốn nhờ ông Lê Văn Lan viết cho một bài thật khách quan về dòng họ nhà tôi, ký cả tên “Giáo sư Lan” vào đó. Thế là cụ nhà tôi chết sẽ nhắm được mắt… (Nói đến đây, nhà sử họcLê Văn Lan nghẹn ngào khóc).

– PV: Là người đầu tiên, cũng là người duy nhất còn sống đi “đào” văn hoá Phùng Nguyên ở Phú Thọ, từng làm việc với các đại thụ ngành sử học Việt Nam ở Viện Sử với những đóng góp không nhỏ, là người của công chúng yêu lịch sử suốt nhiều năm qua, đã ở tuổi 75, ông có nghĩ đến lúc nào đó ông sẽ viết hồi ký?

– Ông Lê Văn Lan: Tôi không viết hồi ký. Tôi thích bài hát của Trịnh Công Sơn. “Thằng” này nó ăn dầm ở dề tại nhà tôi, chơi với tôi mãi, tôi thuộc và thích bài này. Tôi hiểu Trịnh Công Sơn viết bài này khi đang khóc thằng bạn thân của anh ta. Có câu rất hay: “Vùng trời nào đó anh đã bay qua/ chỉ còn lại đây những sáng bao la/ tình người rồi quên, bạn bè rồi xa/ Ôi tháng năm, những dấu chân người cũng bụi mờ”. Tôi thích cái câu đó, mỗi chúng ta bay xẹt qua vòm trời này nhanh lắm, vấn đề là sau khi ta xẹt qua, vòm trời nó vẫn sáng bao la. Nó không bị ta làm vẩn đục. Thế là mãn nguyện rồi.

PV: Chân thành cảm ơn cuộc nói chuyện chân thành và gan ruột của nhà sử học Lê Văn Lan. Chúc ông mau hồi lại sau ca phẫu thuật cắt bỏ túi mật… to lớn của một người dám nói thẳng.

Đỗ Lãng Quân (thực hiện)

Kèm chùm 5 ảnh về nhà sử học Lê Văn Lan

Hình đại diện của Không hiểu

About dodoanhoang

Journalist at Dan Viet newspaper
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Responses to Trò chuyện dài với “Giáo sư sử học” Lê Văn Lan (khi đăng báo Tết, bản thảo này đã được Hắn gọt đi quá nửa!)

  1. Hình đại diện của Không hiểu trungbaochi nói:

    Vẫn luôn dõi theo blog anh.

Đã đóng bình luận.